Báo CáoBan Tổng Giám đốc

Từ một doanh nghiệp dược đã 30 năm lấy uy tín chất lượng cao làm lợi thế cạnh tranh, năm 2012 có doanh số phân bổ vào Hệ điều trị (ETC) trên 57% và chọn hướng phát triển thị trường ETC làm mục tiêu đúng đắn, chúng tôi đã không chấp nhận hạ thấp tiêu chuẩn chất lượng để hạ giá thành sản xuất cho đấu thầu, mà kiên định với chiến lược giữ vững và nâng cao chất lượng đồng thời chuyển hướng thị trường mục tiêu.

Bên cạnh những thuận lợi cho Ngành Dược khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, các Doanh nghiệp dược phải đối mặt trực tiếp với Doanh nghiệp nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi hầu hết các “hàng rào” thuế quan bị hạ thấp. Không dừng lại ở việc giảm thuế mà các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm nước ngoài ở Việt Nam còn được phép trực tiếp xuất nhập khẩu dược phẩm từ ngày 1-1-2009. Nhiều chuyên gia dự đoán trong thời gian đầu các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tập trung vào phát triển hệ thống phân phối dược phẩm ở Việt Nam. Và như vậy, ngành dược Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ mất thị phần, thị trường do năng lực cạnh tranh thấp.

Cộng hưởng những khó khăn trên, năm 2012 Bộ Y tế và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012 quy định về lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh, các quy định của thông tư hướng đến các nhà thầu có thuốc giá rẻ nhất, đã phần nào làm cho các doanh nghiệp dược trong nước đã khó khăn càng khó khăn hơn.

Với tốc độ tăng trưởng trên 42% năm 2013 và 37% năm 2014, chúng tôi khẳng định OTC tiếp tục là thị trường mục tiêu đầy tiềm năng của Imexpharm trong nhiều năm tới nữa.


Tuy vậy, chúng tôi càng nhận thức sâu sắc được rằng trong khó khăn luôn luôn có cơ hội, thách thức càng cao thì cơ hội mở ra càng lớn. Từ một doanh nghiệp dược đã 30 năm lấy uy tín chất lượng cao làm lợi thế cạnh tranh, năm 2012 có doanh số phân bổ vào Hệ điều trị (ETC) trên 57% và chọn hướng phát triển thị trường ETC làm mục tiêu đúng đắn, chúng tôi đã không chấp nhận hạ thấp tiêu chuẩn chất lượng để hạ giá thành sản xuất cho đấu thầu, mà kiên định với chiến lược giữ vững và nâng cao chất lượng đồng thời chuyển hướng thị trường mục tiêu.

Sự lựa chọn sống còn này đã mang lại cho Imexpharm nhiều thành quả, được đánh đổi bằng không ít công sức và tâm huyết của toàn thể đội ngũ. Khi chuyển hướng sang thị trường OTC, giữa lúc cạnh tranh khốc liệt nhất, chúng tôi lại nhận ra rằng tiềm năng phát triển của Imexpharm trên OTC rất lớn mà trước giờ Imexpharm chưa thật sự quan tâm. OTC đánh giá cao sản phẩm Imexpharm vì chất lượng tiêu chuẩn Châu Âu, hiệu quả điều trị cao với giá cả hợp lý hơn hàng nhập khẩu cùng chủng loại. Với tốc độ tăng trưởng trên 42% năm 2013 và 37% năm 2014, chúng tôi khẳng định OTC tiếp tục là thị trường mục tiêu đầy tiềm năng của Imexpharm trong nhiều năm tới nữa.

Năm 2014 đã khép lại với bức tranh khá tươi sáng của kinh tế Việt Nam, với GDP tăng trưởng 5,98% cao hơn mục tiêu 5,8%, kiểm soát thành công lạm phát, chính sách tiền tệ nới lỏng và các cân đối lớn của kinh tế vĩ mô được cải thiện tốt. Ngành dược tuy được dự báo khả năng tăng trưởng 18% nhờ dân số đông, mức sống tăng cao và người dân ngày càng quan tâm chăm sóc sức khỏe, nhưng thực tế chỉ tăng trưởng 5% do tình hình đấu thầu chỉ chọn thuốc giá rẻ.

Tuy vậy, năm 2014 là năm mà quyết tâm chinh phục OTC của Imexpharm đã thành công tốt đẹp. Với những nỗ lực tái cấu trúc nhân sự, nâng cao năng lực toàn đội ngũ, cùng với một loạt các giải pháp phát triển R&D, phát triển sản phẩm, mở rộng hệ thống phân phối, nâng cấp các nhà máy thuốc kháng sinh trong khu VSIP II Bình Dương lên tiêu chuẩn EU-GMP…để dần từng bước tự tin tham gia vào sân chơi Quốc tế, chúng tôi vui mừng báo cáo cùng Quý vị các kết quả đã đạt được như sau:

I. KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH NĂM 2014

1. Tổng doanh thu
Tổng doanh thu và thu nhập thực hiện năm 2014 là 907,5 tỷ đồng, đạt 90,8% kế hoạch Đại Hội đồng cổ đông đề ra, tăng trưởng 6,6% so với năm 2013, trong đó doanh thu thuần đạt 897,1 tỷ đồng, tăng trưởng 6,6%; Thu nhập khác đạt 10,4 tỷ đồng. Trong doanh thu thuần gồm:

• Doanh thu hàng mua bán khác đạt 37,3 tỷ đồng, tăng 187% so với năm 2013, chiếm tỷ trọng 4,2% trên doanh thu thuần, do công ty có chuyển nhượng bán một số nguyên liệu cho đối tác có yêu cầu.
• Doanh thu hàng sản xuất đạt 859,8 tỷ đồng, tăng 3,8%, cao hơn mức tăng 2,2% của năm 2013, chiếm tỷ trọng 95,8% trên doanh thu thuần, trong đó:
+ Doanh thu hàng cung ứng, gia công và xuất khẩu đạt 93,8 tỷ đồng tăng 10,9% so với năm 2013, chiếm 10,9% doanh thu sản xuất.
+ Doanh thu hàng nhượng quyền đạt 110,9 tỷ đồng, tăng 1,0% so với năm trước, chiếm 12,9% doanh thu sản xuất.
+ Doanh thu hàng Imexpharm (công ty tự phân phối trong nước) đạt 655,1 tỷ đồng, tăng 3,3% so với năm trước, chiếm 76,2% doanh thu sản xuất.


Thị trường OTC tuy đạt mức tăng trưởng cao 37% nhưng vẫn không đủ bù đắp khi doanh thu từ ETC tiếp tục sụt giảm 48%, vì vậy doanh thu hàng sản xuất chưa đạt được mức tăng trưởng cao. Kết thúc năm 2014, tỷ trọng doanh thu OTC:ETC là 80%:20%, so với dự kiến 75%:25% của HĐQT và Ban Tổng Giám đốc, so với tỷ trọng 42%:57% của năm 2012, 60%:40% của năm 2013. Có thể thấy được thành công lớn của Imexpharm trong việc khắc phục khó khăn do cơ chế gây ra, đang chuyển hướng thị trường một cách mạnh mẽ để nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng tốt và vững chắc cho những năm tiếp theo.


Doanh thu phân bổ theo nhóm hàng và theo khu vực địa lý như sau:


Nhóm hàng kháng sinh làm nên thương hiệu Imexpharm với 49,0% doanh thu.
Tính riêng cho hàng Imexpharm tự phân phối trong nước, thì thị trường ưu thế là ở Đồng bằng Sông Cửu Long với tỷ trọng 50,1% doanh thu.

Xét về tỷ trọng sản lượng và giá trị đóng góp của các nhà máy năm 2014 như sau:​


Trong 1.222 triệu đơn vị sản xuất năm 2014 thì Nhà máy Non-Betalactam chiếm tỷ trọng 72,7% sản lượng, đóng góp 44,3% giá trị; các nhà máy Penicillin (thuốc viên-gói) và nhà máy Cephalosporin Bình Dương tuy tổng cộng chỉ chiếm tỷ trọng 20,2% sản lượng nhưng đóng góp đến 53,5% giá trị. Mặt khác các nhà máy cũng như tài sản cố định khác được Imexpharm tínhkhấu hao theo phương pháp đường thẳng chứ không theo sản lượng. Vì vậy trong vài năm tới khi Imexpharm khai thác tốt được công suất các nhà máy này thì hiệu quả mang lại sẽ còn cao hơn nữa.



2. Lợi nhuận

Lợi nhuận trước thuế, khấu hao và trích Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ (Quỹ PTKH&CN) thực hiện được là 163,3 tỷ đồng, tăng 15,2% so với năm 2013.

Lợi nhuận trước thuế và trích Quỹ PTKH&CN là 122,5tỷ đồng, đạt 102,1% kế hoạch 2014, và ghi nhận mức tăng trưởng cao 15,5% so với năm 2013. Lợi nhuận trước thuế là 110,3 tỷ đồng, so với năm trước tăng trưởng 15,4%.

Lợi nhuận sau thuế năm 2014 đạt được 85,8 tỷ đồng, tăng trưởng 41,5% so với năm 2013.

Như vậy lợi nhuận năm 2014 của Imexpharm đạt được mức tăng trưởng cao và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng 6,6% của doanh thu thuần, nguyên nhân là do:

• Tỷ trọng giá vốn hàng bán/doanh thu thuần là 53,3%, giảm 0,4% so với năm trước, tiết kiệm 3,2 tỷ đồng đóng góp vào lãi gộp, giúp lãi gộp tăng trưởng 7,4% cao hơn mức tăng của doanh thu thuần. Đây là kết quả đạt được trong nỗ lực nâng cao hơn nữa năng suất lao động trước tình hình giá cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất tăng cao các năm qua.
• Chi phí bán hàng chiếm tỷ trọng 27,2%/doanh thu thuần, tăng 0,2% so với năm trước, tương đương tăng 1,6 tỷ đồng. Năm 2014 một lần nữa Imexpharm ghi nhận quyết tâm và nỗ lực hết mình của toàn đội ngũ, đặt biệt là khối bán hàng, tiếp thị để chinh phục thị trường OTC, với mức tăng trưởng cao và liên tục trong 2 năm qua, nhưng chi phí bán hàng năm 2014 chỉ tăng 7,4% so với mức tăng 37% của OTC. Điều này không chỉ khẳng định mạnh mẽ năng lực quản lý điều hành của Imexpharm, mà còn cho thấy sức cạnh tranh cao của sản phẩm và thương hiệu Imexpharm trên thị trường OTC.
• Tỷ trọng chi phí quản lý năm 2014 chiếm 7,2%/doanh thu thuần, giảm 0,3% so với năm 2013, giúp tiết kiệm 2,2 tỷ đồng đóng góp thêm vào lợi nhuận. Đây là thành quả của việc kiểm soát, quản lý tốt các khoản chi phí quản lý trong tình hình kinh doanh khó khăn, đồng thời cũng là kết quả của quá trình tái cấu trúc tinh gọn hệ thống hiệu quả giúp gia tăng lợi nhuận cho công ty.
• Doanh thu từ hoạt động tài chính 9,6 tỷ đồng, tăng 3,4 tỷ đồng tương ứng tăng 54% so với năm 2013, chủ yếu nhờ lãi tiền gửi có kỳ hạn và lãi chênh lệch tỷ giá thực hiện, đóng góp thêm vào tăng trưởng lợi nhuận.Lãi tiền gửi có kỳ hạn tăng 60,5% chủ yếu nhờ vào công tác thu hồi công nợ tốt trong năm, và nguồn tiền bán cổ phiếu quỹ 16,6 tỷ đồng, phát hành cổ phiếu ESOP cho CBCNV vào cuối năm là 15,0 tỷ đồng. Mặt khác trong năm công ty không phát sinh các khoản chi đầu tư xây dựng lớn vì vậy duy trì được lượng tiền gửi dồi dào.
• Lợi nhuận sau thuế tăng trưởng cao 41,5% nhờ chi phí thuế TNDN hiện hành giảm 29,9% so với năm 2013, nguyên nhân là do: (1) Thuế TNDN năm 2014 áp dụng tỷ suất theo quy định mới là 22% so với 25% của năm trước; (2) Năm 2014 Imexpharm thành công trong việc triển khai chính sách bán hàng mới giúp tiết kiệm và giảm chi phí bán hàng tính vào chi phí khống chế, đồng thời biên độ chi phí khống chế tăng lên 15% từ 10% theo quy định mới, vì vậy Imexpharm không phát sinh chi phí bị vượt khi tính thuế TNDN.

Bên cạnh đó, việc trích lập Quỹ PTKH và CN thực hiện từ năm 2012 đến nay cũng giúp làm giảm đáng kể chi phí thuế TNDN hiện hành mỗi năm của Imexpharm, cụ thể từ năm 2012 đến năm 2014 số tiền giảm được lần lượt là 2,9 tỷ đồng, 2,6 tỷ đồng và 2,7 tỷ đồng.


II. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

1. TÀI SẢN
Quy mô tài sản
Tổng tài sản năm 2014 đạt 1.029,5 tỷ đồng, tăng 18,4% hay tăng 159,7 tỷ đồng so với năm 2013, chủ yếu do tài sản ngắn hạn tăng 28,4%. Từ tỷ trọng 64,4% năm 2013, năm 2014 tài sản ngắn hạn tăng lên chiếm 69,9% trong tổng tài sản, tài sản dài hạn chiếm 30,1%. Đây là cơ cấu tài sản hợp lý của các công ty ngành dược.


Cơ cấu tài sản





Các khoản mục trong tài sản ngắn hạn như: tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho,… thường xuyên được Imexpharm kiểm soát theo mục tiêu và định mức, cơ cấu lại để tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn. Cuối năm 2014 tài sản ngắn hạn tăng 159,2 tỷ đồng hay 28,4%, chủ yếu do các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho tăng, cụ thể:
• Các khoản phải thu tăng 71,8 tỷ đồng hay tăng 46,3%, trong đó phải thu khách hàng tăng 41,6 tỷ đồng hay 25,1% chủ yếu do chương trình bán hàng cuối năm; trả trước cho người bán tăng 17,1 tỷ đồng so với năm 2013. Các khoản phải thu được kiểm soát đo lường rủi ro chặt chẽ.
• Hàng tồn kho tăng 94,9 tỷ đồng hay 47,5%, chủ yếu là nguyên vật liệu tăng 59,4 tỷ đồng hay 61,2%, thành phẩm tăng 35,3 tỷ đồng hay 55,6%, do công ty phải dự trữ sản xuất cho chương trình bán hàng Tết. Hàng tồn kho được trích lập dự phòng đầy đủ.
Tài sản dài hạn cuối năm 2014 hầu như không đổi, với tài sản cố định giảm 12,5 tỷ đồng hay 4,5%, và đầu tư tài chính dài hạn tăng gần 12 tỷ đồng hay tăng 35% so với năm trước do Imexpharm đầu tư thêm vào Agimexpharm để tăng tỷ lệ nắm giữ lên 34%.


1. NGUỒN VỐN




Nợ phải trả cuối năm 2014 là 232,9 tỷ đồng, tăng 61,8% so với năm 2013. Nhìn chung tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn luôn duy trì ở mức thấp, năm 2013-2014 lần lượt là 16,2% - 22,6%, trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn. Trong nợ ngắn hạn 200,3 tỷ đồng thì phải trả người bán chiếm 56,3%, phải trả người lao động 14,6% và chi phí phải trả ngắn hạn 23,0%.

Nguồn vốn chủ sở hữu là 796,6 tỷ đồng, tăng 9,8%, nhờ vốn điều lệ tăng 96 tỷ đồng hay 57,5% từ đợt phát hành trong năm, bán hết 11,8 tỷ đồng cổ phiếu quỹ thu thêm thặng dư 4,8 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng 40,5 tỷ đồng hay 102%. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn được duy trì ở mức cao qua các năm 2013-2014 lần lượt là 83,8% - 77,4%. Điều này cho thấy tiềm lực tài chính công ty rất vững mạnh, đồng thời HĐQT và Ban TGĐ muốn đảm bảo sự an toàn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều biến động và tiềm ẩn rủi ro.

Chi tiết việc phát hành tăng vốn điều lệ năm 2014 như sau:

Stt Diễn giải Vốn điều lệ Thặng dư vốn Cộng
1 Thưởng cho cổ đông hiện hữu tỷ lệ 2:1, nguồn thặng dư vốn
- Trước khi phát hành 167.058.100.000 315.192.059.609 482.250.159.609
- Sau khi phát hành 250.585.860.000 236.452.033.609(*) 487.037.893.609
2 Chương trình ESOP cho
CB-CNV, 5% trên vốn điều lệ
- Trước khi phát hành 250.585.860.000 236.452.033.609 487.037.893.609
- Sau khi phát hành 263.114.860.000 238.957.833.609 502.072.693.609

((*): Imexpharm tái phát hành cổ phiếu quỹ thu được thêm khoản thặng dư vốn là 4.787.734.000 đồng)

Như vậy sau khi bán 300.000 cổ phiếu quỹ và thực hiện 2 đợt phát hành cổ phiếu, tổng vốn điều lệ và thặng dư tăng thêm 19,8 tỷ đồng hay 4,1%.

Cơ cấu nguồn vốn


Nợ ngắn hạn từ tỷ trọng 13,4% trên tổng nguồn vốn năm 2013 tăng lên 19,5%,
vốn điều lệ từ 19,3% tăng lên 25,6%, thặng dư vốn từ 36,4% giảm còn 23,2%,
và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối từ 4,6% tăng lên 7,8% trong tổng nguồn vốn năm 2014.

3. TÌNH HÌNH LƯU CHUYỂN TIỀN
Lợi nhuận kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động là 132,6 tỷ đồng, nhưng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh cuối năm 2014 chỉ đạt 15,6 tỷ đồng, chủ yếu do: các khoản phải thu tăng 58,4 tỷ đồng; hàng tồn kho tăng 95,6 tỷ đồng; bù lại các khoản phải trả cũng tăng 88,4 tỷ đồng; thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp 32,4 tỷ đồng; và tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh 18 tỷ đồng.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư là (36,4) tỷ đồng, chủ yếu do chi mua sắm xây dựng tài sản cố định 31,4 tỷ đồng, chi đầu tư dài hạn vào Agimexpharm 12 tỷ đồng, và cổ tức được nhận 6,8 tỷ đồng.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính là 7,1 tỷ đồng, do tiền thu từ phát hành cổ phiếu và bán cổ phiếu quỹ 31,7 tỷ đồng, và trong năm đã chi trả cổ tức cho cổ đông là 24,6 tỷ đồng.

Vì vậy lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (13,7) tỷ đồng. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ đạt 178,6 tỷ đồng, giảm 7,1% so với năm 2013.

4. KHẢ NĂNG THANH TOÁN



Khả năng thanh toán của công ty luôn được duy trì ổn định ở mức cao, đảm bảo tính an toàn trong hoạt động. Khả năng thanh toán năm 2014 giảm thấp hơn năm 2013 do tốc độ tăng trưởng của tài sản ngắn hạn là 28,4% thấp hơn tốc độ tăng trưởng của nợ ngắn hạn là 67,4%, đồng thời hàng tồn kho cũng tăng trưởng cao 47,5%. Mặc dù giảm nhưng các khả năng thanh toán năm 2014 vẫn còn nằm ở mức khá cao.




4. KHẢ NĂNG THANH TOÁN
Năm 2014 với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao, các chỉ số khả năng sinh lời cũng được cải thiện đáng kể, với ROA tăng 2,2%, ROE tăng 2,8%, ROS tăng 2,4% so với năm 2013. Đặc biệt các chỉ số lợi nhuận trước thuế và trích Quỹ PTKH&CN trên tổng tài sản bình quân, trên vốn chủ sở hữu bình quân và trên doanh thu năm 2014 lần lượt đạt: 12,9%, 16,1% và 13,7%. Những con số biết nói này thật sự là niềm an tâm và tự hào của Imexpharm trong năm 2014.

Riêng các chỉ số lợi nhuận trước thuế và trích Quỹ PTKH&CN/Vốn điều lệ bình quân, lợi nhuận sau thuế/ Vốn điều lệ bình quân giảm so với năm trước do việc phát hành tăng vốn điều lệ trong năm, tuy nhiên vẫn còn ở mức khá cao là 57,0% và 39,9%.

Ngoài ra, các chỉ số khả năng sinh lời hiện tại chưa thể hiện đủ năng lực hoạt động và tiềm năng của Imexpharm do những nguyên nhân sau:
• Việc trích Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ trong các năm 2012-2014 để tiết kiệm chi phí thuế TNDN làm giảm lợi nhuận sau thuế và ảnh hưởng lớn đến các chỉ số khả năng sinh lời của Imexpharm như ROS, ROE, ROA...
• Bên cạnh đó, giai đoạn 2008-2013 Imexpharm đã đầu tư mạnh mẽ cho nhiều dự án lớn để phát triển trong cả trung và dài hạn. Đến nay do tình hình khách quan các dự án này chưa phát huy được hết công suất. Trong tương lai vài năm tới khi các nhà máy này hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là sau khi nhà máy Cephalosporin và nhà máy Penicillin thuốc tiêm được nâng cấp lên tiêu chuẩn EU-GMP cuối năm 2015, hứa hẹn sẽ mang đến sự gia tăng doanh thu và lợi nhuận đáng kể và vững chắc cho Imexpharm. Từ đó các chỉ số khả năng sinh lời cũng sẽ được cải thiện tốt hơn nữa.

III. HOẠT ĐÔNG ĐẦU TƯ

1. Nhà máy thuốc tiêm Penicillin đã được đưa vào hoạt động

Theo kế hoạch đã công bố với Quý cổ đông và nhà đầu tư, nhà máy Penicillin sản xuất thuốc tiêm tại Bình Dương bắt đầu đi vào hoạt động từ quý III/2013. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của việc cấp số đăng ký sản phẩm từ cơ quan quản lý nhà nước bị chậm, ảnh hưởng của chính sách quản lý nhà nước về đấu thầu, nên mặc dù nhà máy này được xây dựng xong và đã được xét duyệt cấp chứng nhận GMP-WHO ngày 08/04/2013 nhưng vẫn chưa thể sản xuất sản phẩm trong năm 2013. Đây là rủi ro từ các cơ chế nhà nước mà công ty chưa lường hết, nhưng công ty vẫn tích cực bám sát để tham gia đấu thầu 02 sản phẩm đã được cấp giấy phép đăng ký sản xuất .Và cuối cùng vào tháng 12/2014, nhà máy này đã chính thức được đưa vào hoạt động.

2. Tiến độ Dự án nâng cấp các nhà máy Cephalosporin trong khu VSIP II Bình Dương lên tiêu chuẩn EU-GMP nhanh hơn dự kiến

Theo kế hoạch mà HĐQT và Ban Tổng Giám đốc Imexpharm đã công bố cuối năm 2013 thì dự án quan trọng này sẽ kéo dài 2-3 năm. Tuy nhiên,với sự quản lý điều hành sát sao và quyết tâm của Ban lãnh đạo Imexpharm, cùng nỗ lực của toàn thể CBCNV Bình Dương, dự án này đang được tiến hành thuận lợi và đẩy nhanh tốc độ, dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2015, tức là một năm sau khi khởi động.

3. Mở rộng hệ thống phân phối

Năm 2014, Imexpharm đã tiếp tục mua đất xây nhà cho các chi nhánh Cà Mau, chi nhánh Tiền Giang, chi nhánh Đồng Nai, chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu; đồng thời thành lập thêm chi nhánh mới là Chi Nhánh Bán Hàng Số 1 Tp. Hồ Chí Minh - Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm tại 3C5 - 4C5, Khu phố 3A, đường Hà Huy Giáp, phường Thạnh Lộc, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh. Tính đến 31/12/2014, Imexpharm đã có 20 chi nhánh trên toàn quốc.

4. Đầu tư thêm vào Agimexpharm để tăng tỷ lệ nắm giữ

Thực hiện Nghị quyết 51/NQ-HĐQT-IMEX ngày 27/10/2014, Imexpharm đã thực hiện thành công việc mua thêm cổ phiếu Agimexpharm từ các đối tác khác để nâng tỷ lệ nắm giữ từ 25,86% lên 34%, với tổng giá trị đầu tư từ 14,4 tỷ đồng tăng lên 26,4 tỷ đồng cuối năm 2014.

IV.NHỮNG TIẾN BỘ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NĂM 2014

Năm 2014 Imexpharm tiếp tục có những bước tiến mạnh mẽ để chinh phục thị trường và đạt được mức tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên thành tựu nổi bật phải kể đến đó là sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận, với tinh thần hợp tác và nhiệt huyết, đã đưa Imexpharm lên một vị thế mới. Thị trường OTC đạt mức tỷ trọng 75% - 80% trên doanh thu và khả năng tăng trưởng cao như các năm 2013, 2014, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức phía trước nhưng chúng tôi có thể tự tin Imexpharm sẽ phát triển vững vàng và chịu đựng được rủi ro đa chiều của thị trường.
Những thành công nổi bật nhất của năm 2014 có thể điểm qua như sau:

1. Lợi nhuận vượt kế hoạch theo nghị quyết Đại Hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) 2014 đề ra, thị trường OTC tăng trưởng hơn 37%.
Với hàng loạt giải pháp đồng bộ phát triển thị trường OTC và đạt được mức tăng trưởng 37%, năm 2014 Imexpharm ghi nhận mức doanh thu tăng trưởng 6,6%, lợi nhuận trước thuế và trích Quỹ PTKH&CN đạt 102,1% kế hoạch 2014, tăng trưởng 15,5% so với năm 2013, lợi nhuận sau thuế đạt được mức tăng trưởng vượt bậc 41,5% so với năm trước. Nhờ vậy các chỉ số đo lường khả năng sinh lời đều cải thiện đáng kể.

2. Chương trình truyền thông quảng cáo sản phẩm pms-Supper Maxgo
Với chiến lược tiến công OTC, Imexpharm đã thành lập nhà máy thực phẩm chức năng tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, Tp.HCM, với mục tiêu cung cấp những sản phẩm thực phẩm chức năng chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện của cộng đồng.
Năm 2014 đánh dấu sự ra đời của loạt sản phẩm thực phẩm chức năng thương hiệu Imexpharm, tiêu biểu là chương trình truyền thông quảng cáo cho pms-Supper Maxgo, mang lại cho Imexpharm 4,77 tỷ doanh thu năm 2014.

3. Khối tài chính: giải pháp kịp thời mở lối cho chính sách bán hàng năm 2014
Đạt được thành công lớn trên OTC phải kể đến công sức của đội ngũ bán hàng và tiếp thị Imexpharm. Tuy nhiên, khối tài chính cũng hỗ trợ hết mình và năm 2014 đã có giải pháp kịp thời để chính sách bán hàng 2014 có được hiệu quả cao, cả trên phương diện doanh số lẫn phương diện tài chính.

4. Khối sản xuất: đáp ứng tốt nhu cầu cho bán hàng
Với sản lượng sản xuất năm 2014 đạt 1.222 triệu đơn vị, tăng 20,6% so với năm 2013, và sự phối hợp tốt giữa cung ứng – tồn trữ - sản xuất – bán hàng trong công tác lập và thực thi kế hoạch, khối sản xuất đã đáp ứng tốt nhu cầu hàng hóa cho bán hàng 2014 không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, đặc biệt là những mặt hàng chủ lực của Imexpharm.

5. Tập trung đẩy nhanh tiến độ dự án nâng cấp các nhà máy lên tiêu chuẩn EU-GMP
Dự án nâng cấp các nhà máy Cephalosporin và Penicillin thuốc tiêm tại Bình Dương lên tiêu chuẩn EU-GMP là dự án rất quan trọng nằm trong giải pháp cho thị trường ETC, mở lối cho sản phẩm kháng sinh chích của Imexpharm vào hệ điều trị, đồng thời cho xuất khẩu. Theo dự kiến của HĐQT và Ban Tổng Giám đốc, dự án này sẽ kéo dài 2-3 năm. Tuy nhiên nhờ sự chỉ đạo điều hành sát sao của Ban lãnh đạo, cùng với công sức của đội ngũ CBCNV Bình Dương, dự án này dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2015, tức là một năm sau khi khởi động. Hiện tại tiến độ toàn dự án đạt khoảng 60%.

6. Thành lập Ban Quản trị Chiến lược và Phát triển theo BSC trực thuộc Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm
Năm 2014 đánh dấu sự ra đời của Ban Quản trị Chiến lược và Phát triển theo BSC, theo Nghị quyết 28/NQ-HĐQT-IMEX ngày 20/6/2014 của HĐQT Imexpharm. Ban Quản trị Chiến lược và Phát triển có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất, tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc về Quản trị Chiến lược và Phát triển công ty theo BSC.

7. Kích hoạt sự thay đổi nguồn nhân lực, triển khai áp dụng văn hóa doanh nghiệp
Sau khi triển khai dự án BSC, Imexpharm nhận thấy đối với phát triển đội ngũ thì chỉ thay đổi trong tư duy là chưa đủ, mà cần phải biến thành hành động cụ thể, và chứng minh bằng con số. Năm 2014 Imexpharm tiếp tục kích hoạt sự thay đổi mạnh mẽ nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ cấp trung và cấp cao, để nâng cao năng lực giải quyết vấn đề và thực thi kế hoạch. Đồng thời Imexpharm cũng đã triển khai áp dụng để văn hóa công ty đi vào cuộc sống của CBCNV.

8. Chương trình ESOP cho cán bộ công nhân viên
Cùng với chế độ lương thưởng và phúc lợi khá tốt, với thu nhập bình quân năm 2014 đạt 9,5 triệu đồng/người/tháng, trong năm qua Imexpharm cũng mang đến cho 167 CB-CNV từ cấp tổ phó trở lên cơ hội được sở hữu cổ phiếu công ty thông qua chương trình cổ phiếu ESOP. Tổng khối lượng phát hành 1.252.900 cổ phiếu, tương đương 5% số cổ phiếu đang lưu hành, với giá mua 12.000 đồng/cổ phiếu.
Kể từ khi niêm yết năm 2006, đây là lần thứ 2 Imexpharm thực hiện chương trình ESOP cho người lao động nhằm gia tăng sự gắn bó và động lực làm việc cho CB-CNV.

V. HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH NĂM 2014





Năm 2014 ngoài những thành tựu đạt được như trên, Ban Tổng Giám đốc
Imexpharm cũng nhận thấy còn những hạn chế trong công tác điều hành, cụ thể như sau:



• Thực thi kế hoạch doanh số: Tổng doanh thu năm 2014 chỉ đạt 90,8% kế hoạch. Đây chính là vấn đề còn trăn trở của Imexpharm trong năm 2014, phải tìm được giải pháp hiệu quả trong thực thi kế hoạch năm 2015, và cần phát huy tinh thần quyết liệt của đội ngũ như quý IV/2014.
• Công suất hoạt động của nhà máy Bình Dương năm 2014 còn thấp: hiện tại chỉ khai thác được dưới 50% công suất do ảnh hưởng từ chính sách đấu thầu, vì dây chuyền thuốc tiêm chỉ sản xuất sản phẩm cung cấp cho bệnh viện thông qua đấu thầu. Đây cũng là hạn chế từ việc chưa có giải pháp đối ứng hiệu quả ngắn hạn trên ETC.
• Tình hình công nợ và tồn kho cuối năm cao: do ảnh hưởng của chính sách bán hàng vào thời điểm cuối tháng 12 và dự trữ nguyên liệu sản xuất, thành phẩm bán hàng chương trình Tết Ất Mùi, công nợ và hàng tồn kho cuối năm còn ở mức khá cao không đạt mục tiêu quản lý, từ đó ảnh hưởng các chỉ số đo lường khả năng hoạt động.
• Chiến lược sản phẩm mới và danh mục sản phẩm cạnh tranh, tạo sự khác biệt còn chậm tiến độ.
Đây là những hạn chế mà Ban Tổng Giám đốc đã nhận thấy trong quá trình điều hành năm qua cần được khắc phục trong năm 2015.

VI. MỤC TIÊU VÀ KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH NĂM 2015

Năm 2014 đã khép lại với mục tiêu của Imexpharm là phải tạo ra được bước ngoặt đột phá, và thật sự đã đạt được thành công, tuy chưa phải trọn vẹn nhưng đã ghi dấu một bước ngoặt mới trong định hướng sản xuất kinh doanh. Vượt qua bao khó khăn thách thức, giờ đây ở tư thế mới Imexpharm càng thêm tự tin và sẵn sàng chào đón vận hội mới của năm 2015.

Nền kinh tế Việt Nam năm 2015 được dự báo sẽ tăng trưởng 6,2%, đồng thời sẽ sớm thực hiện các cam kết theo các Hiệp định mới ký kết. Ngoài ra, Việt Nam sẽ tiếp tục đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU, Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, qua đó tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015. Việc thực thi các hiệp định thương mại sẽ giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2015 và các năm tới tăng trưởng mạnh mẽ.

Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô năm 2015 vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, và cơ chế quản lý ngành dược tiếp tục còn nhiều bất cập. Thị trường OTC sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn và là sân chơi chính của các doanh nghiệp dược đầu tư chất lượng; trong khi đó thuốc giá rẻ vẫn là tiêu chí lựa chọn số một theo tinh thần thông tư 36,37/TTLT-BYT-BTC, và ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng điều trị trong ETC. Đồng thời, các doanh nghiệp dược cũng phải chuẩn bị sẵn sàng cho Luật đấu thầu sửa đổi dự kiến ban hành vào năm 2016.

Năm 2015, với cam kết và quyết tâm chinh phục thị trường OTC trong nước, không ngừng nâng cao tiêu chuẩn chất lượng hướng đến đấu thầu và xuất khẩu, Imexpharm cần nhìn nhận lại những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của mình, để từ đó đề ra các mục tiêu chiến lược cho năm 2015 như sau:

1. PHÂN TÍCH SWOT

ĐIỂM MẠNH
• Có Định hướng Chiến lược đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của thị trường.
• Áp dụng cơ chế công khai, minh bạch, đúng pháp luật giúp chủ động trong việc thực thi các chiến lược, tạo niềm tin vững chắc cho các đối tác và cổ đông.
• Tập trung dòng sản phẩm chủ lực phù hợp và tạo được lợi thế cạnh trạnh thị trường OTC.
• Triển khai xây dựng Hệ thống Chất lượng Châu Âu, nhằm củng cố và phát triển thương hiệu Imexpharm, đảm bảo toàn diện chất lượng sản phẩm.
• Giải pháp điều hành linh hoạt, đáp ứng kịp thời và hiệu quả với sự phát triển của thị trường OTC.

THÁCH THỨC
• Các chính sách quản lý nhà nước còn nhiều bất cập như: Quy định về đấu thầu, quy định về thuốc không kê đơn, quy định việc đăng ký thuốc, chính sách BHYT…
• Cạnh tranh khốc liệt giữa các kênh cung ứng của thuốc nước ngoài - thuốc trong nước và thuốc trong nước với nhau.
• Phần lớn nguyên phụ liệu phải nhập khẩu nên bị ảnh hưởng các yếu tố đầu vào như: tỷ giá ngoại tệ, biến động giá nguyên liệu, chính sách thuế nhập khẩu …
• Cơ chế quản lý giá thuốc cứng nhắc của liên ngành Tài chính – Y tế đã trực tiếp ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ cấu giá thành sản phẩm và xây dựng mức lợi nhuận an toàn của sản phẩm.
• Áp lực thị trường đối với các chiến lược phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn là thách thức lớn cho Ban Điều hành.

ĐIỂM YẾU
• Sự thay đổi theo mô hình quản trị mới vẫn chưa rõ nét và chưa tạo nên hiệu quả vượt trội.
• Công tác đầu tư cho Nghiên cứu/Phát triển (R&D) và ứng dụng KHCN mới trong sản xuất chưa đạt hiệu quả cao.
• Nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được đầu tư tập trung và đồng bộ.
• Giảm thị phần trong kênh đấu thầu đối với một số mặt hàng chủ lực.

CƠ HỘI
• Nhu cầu sử dụng thuốc đặc trị tại các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập tăng nhanh (Theo Báo cáo tổng kết của Bộ Y tế: Dept. of Therapy 2014)
• Chính phủ tăng cơ cấu đầu tư các bệnh viện vệ tinh trong năm 2014-2015. (Báo cáo tổng kết Bộ Y tế : Dept. of Therapy 2014)
• Thị trường OTC vẫn là thị trường tiềm năng đối với Imexpharm.
• Tiêu chuẩn hoá Hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn EU tạo thế mạnh cho Imexpharm trong đàm phán với các đối tác trong và ngoài nước.

2. CÁC MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC NĂM 2015

Về sản xuất kinh doanh: Imexpharm đặt ra mục tiêu đầy tham vọng và thách thức với tổng doanh thu đạt 1.050 tỷ đồng, tăng trưởng 15,7%,với lợi nhuận trước thuế và trích Quỹ PTKH&CN đạt 130 tỷ đồng, tăng trưởng 6,1%.

Về đầu tư: Năm 2015 Imexpharm sẽ hoàn thành dự án nâng cấp các nhà máy Bình Dương lên EU-GMP. Đồng thời Imexpharm cũng tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống phân phối, với kế hoạch mua đất xây dựng chi nhánh Bình Dương, và đầu tư mở thêm chi nhánh mới tại các tỉnh Bình Định, Nghệ An.

Không dừng lại ở đó, năm 2015 Imexpharm sẽ triển khai đầu tư thêm nhà máy thuốc công nghệ cao, thuốc đặc trị phù hợp với chiến lược quốc gia về phát triển ngành Dược. Thời gian dự kiến từ 2015 đến 2017, kinh phí trong khoảng từ 100-150 tỷ đồng, lấy nguồn từ Vốn chủ sở hữu và Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ.

• Về thị trường: Tiếp tục đẩy mạnh phát triển tăng độ phủ thị trường cả nước, đồng thời tìm kiếm thêm thị trường đẩy mạnh xuất khẩu.

Về sản phẩm: Rà soát lại cơ cấu sản phẩm chủ lực; Phát triển thị trường cho 2 sản phẩm mới và 3 sản phẩm thực phẩm chức năng

• Nguồn nhân lực: Thực thi hiệu quả BSC, KSI và Văn hóa công ty; Xây dựng đội ngũ nhân sự kế thừa; Thành lập Ban Hợp tác kinh doanh quốc tế trực thuộc Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm.

năm 2015 hứa hẹn sẽ là năm mà nguồn nhân lực được đưa vào mục tiêu trọng tâm để phát triển, kích hoạt
“Sự thay đổi vượt bậc” trong hành động, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp trung và cấp cao, trong văn hóa hướng kết quả.



3. CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
• Kiểm soát hiệu quả công việc toàn công ty qua các chỉ tiêu BSC.
• Triển khai thực hiện KSI: thực thi 10 giải pháp chiến lược để cải thiện các điểm còn yếu của Imexpharm trên 4 phương diện: Tài chính, Khách hàng, Quy trình và Nguồn nhân lực.

MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỤ THỂ CỦA TỪNG KHỐI NHƯ SAU:

Khối Sản xuất
• Thực thi kế hoạch nâng cấp nhà máy Cefalosporin & Penicillin tiêm lên tiêu chuẩn EU-GMP theo đúng tiến độ đến cuối năm 2015, và có giấy chứng nhận Quý II/2016.
• Kiện toàn hệ thống Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Châu Âu.
• Nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D). Trong năm 2015 đảm bảo thúc đẩy nhanh tiến độ đăng ký sản phẩm.
• Triển khai dự án nâng cao quản trị sản xuất và tăng năng suất lao động.
• Liên kết mở rộng hệ thống sản xuất, đa dạng hơn chủng loại sản phẩm.
• Phát triển nguồn nhân lực cho Khối sản xuất theo BSC.

Khối Sales & Marketing
• Định hướng chiến lược Marketing 3.0 tập trung vào khách hàng chủ lực và đẩy mạnh OTC.
• Thực thi chiến lược ngắn hạn trên ETC, làm bước đệm cho chiến lược dài hạn các năm tới.
• Tiếp tục mở rộng kênh phân phối và hợp tác mở rộng chuỗi nhà thuốc lẻ với đối tác chiến lược Pha No.
• Tiếp tục đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ bán hàng, phát triển nguồn nhân lực cho khối S&M theo BSC.

Khối Kinh doanh hàng nhượng quyền và Xuất nhập khẩu
• Tập trung theo sát tiến độ doanh số hàng nhượng quyền năm 2015 và kiểm soát chặt chẽ tồn kho của hàng nhượng quyền.
• Tiếp tục mở rộng tìm kiếm đối tác nhượng quyền và đối tác xuất khẩu.

Khối Tài chính
• Kiểm soát tốt vốn lưu động: rà soát các chỉ số tồn kho, công nợ, đảm bảo vốn và dòng tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh
• Kiểm soát tình hình biến động giá cả đầu vào, đặc biệt là giá cả nguyên vật liệu sản xuất.
• Kiểm soát các rủi ro tài chính, đưa ra những giải pháp hiệu quả để hỗ trợ cho khối bán hàng.
• Tiếp tục khai thác sức mạnh của hệ thống SAP-ERP là đỉnh cao trong công nghệ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt thông qua SAP quản lý tốt công nợ và kiểm soát chi phí theo bộ phận sát sao hơn.

Nhân sự & Ban Văn hóa
• Tái cấu trúc mạnh mẽ con người: thực hiện đào tạo phát triển, luân chuyển và sàn lọc đội ngũ.
• Xây dựng thành công hình mẫu: Ban Tổng Giám đốc hình mẫu, phòng ban hình mẫu, chi nhánh hình mẫu và cá nhân hình mẫu.
• Nâng cao năng suất lao động, gắn hiệu quả công việc với chính sách lương thưởng, phát triển văn hóa hướng đến kết quả và tự khẳng định năng lực của cá nhân.
• Chuẩn bị nhân sự cho việc thành lập Ban Hợp tác kinh doanh quốc tế trực thuộc Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển và tiếp tục đưa Imexpharm chinh phục đỉnh cao mới, thì sức mạnh nguồn nhân lực là yếu tố tiên quyết. Vì vậy năm 2015 hứa hẹn sẽ là năm mà nguồn nhân lực được đưa vào mục tiêu trọng tâm để phát triển, kích hoạt “Sự thay đổi vượt bậc” trong hành động, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp trung và cấp cao, trong văn hóa hướng kết quả.
Trên đây là Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2014 và mục tiêu kế hoạch năm 2015.





Báo cáo Hội đồng Quản trị

Báo cáo Ban Kiểm soát